BỆNH BẠCH HẦU – KHÔNG THỂ CHỦ QUAN

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do vi khuẩn bạch hầu gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, tuy nhiên cũng có thể gặp ở người lớn nếu không có miễn dịch.

Bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.

Đường lây truyền

Lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp qua tiếp xúc với đồ vật có nhiễm trực khuẩn Bạch hầu, có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da…

Biểu hiện

Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, bệnh bạch hầu sẽ có các biểu hiện khác nhau:

– Bạch hầu mũi: Giống như bị viêm đường hô hấp, sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu.Thường sẽ phát hiện được một mảng trắng ở vách ngăn mũ

– Bạch hầu họng – Amiđan: Thường gặp nhất, chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 trường hợp. Bệnh có thể biểu hiện sớm bằng các dấu hiệu như mệt mỏi toàn thân, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhe.Sau 2 đến 3 ngày, một lớp màng mỏng trắng xanh xuất hiện và lan rộng dần. Màng giả có thể chỉ khu trú ở khu vực hạnh nhân (tên gọi thông thường là Amiđan) hoặc có thể lan rộng bao phủ cả màn hầu

– Bạch hầu thanh quản: Sốt, khản giọng, ho ông ổng như chó sủa (barking cough). Do thanh quản là nơi hẹp nhất của đường thở nên nếu màng giả bạch hầu phát triển ở đây, nguy cơ gây tắt nghẽn đường thở rất nhanh đưa đến hôn mê và tử vong

. – Bạch hầu các vị trí khác: Thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai

Biến chứng

Tất cả các biến chứng của bệnh bạch hầu kể cả tử vong đều là hậu quả của độc tố. Mức độ trầm trọng của bệnh và biến chứng thường tương quan với mức độ lan toả của tổn thương tại chỗ

. – Biến chứng hay gặp nhất trong bệnh bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh.Khi viêm cơ tim xuất hiện sớm trong những ngày đầu của bệnh, tiên lượng thường rất đen tối, tỉ lệ tử vong rất cao.

-Viêm dây thần kinh thường ảnh hưởng đến dây thần kinh vận động và thường hồi phục hoàn toàn nếu bệnh nhân không tử vong và biến chứng khác.

Các biến chứng khác:

– Viêm kết mạc mắt hoặc suy hô hấp do tắt nghẽn đường hô hấp có thể xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là nhũ nhi.

– Liệt màn khẩu cái (màn hầu) thường xuất hiện và tuần thứ ba của bệnh.

– Liệt các dây thần kinh vận nhãn, cơ chi và liệt cơ hoành có thể xảy ra vào ̀ tuần thứ năm của bệnh.

– Viêm phổi và suy hô hấp có thể xuất hiện do hậu quả của liệt cơ hoành.

– Tử vong vào khoảng 5 đến 10%, có thể tăng cao đến 20% ở trẻ em dưới 5 tuổi, và người lớn trên 40 tuổi. Tỉ lệ tử vong của bệnh bạch hầu dường như không thay đổi trong 50 năm qua.

Cách phòng ngừa:

– Đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu: 6 trong 1, ComBe Five hoặc DPT-VGB-Hib (SII), Td đầy đủ, đúng lịch.

– Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.

– Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

– Người có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

– Người dân trong ổ dịch cần chấp hành nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc xin phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *